Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
“Khi tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau…”
Những cuộc chia ly luôn khiến con người liên tưởng tới mầm mống của sự đau buồn. Nhưng với Nguyễn Mỹ, xúc cảm mãnh liệt của nhà thơ trong những năm tháng hừng hực khí thế kháng chiến cùng sự sáng tạo tinh tế đã hoà quyện vào những câu thơ cháy tràn sắc đỏ. Với nhà thơ, chia ly không phải chỉ là sự đau buồn và tiếc nuối. Cuộc chia ly diễn ra vào buổi chiều tà, nơi tâm trạng con người luôn trầm xuống một nhịp. Trong ánh chiều vàng vọt ấy, con người thường bùi ngùi, nuối tiếc và nhung nhớ những ngày tháng đã qua. Trong thơ ca cổ điển, ánh chiều tà là thời khắc con người cô đơn và hoang vắng nhất. Cõi lòng của con người dường như đã bị ánh hoàng hôn soi chiếu vào những góc tối hiu quạnh và cô đơn nhất.
Nhưng với Nguyễn Mỹ, ánh chiều tà không tượng trưng cho sự cô đơn và trống trải. Trong cái “nắng xế” của ngày chia ly đột ngột “ngập tràn” sắc nắng vườn hoa. Chính cái “ngập tràn” này đã mở ra một không gian khoáng đạt, đầy sắc nắng, mang theo cả một bầu trời mênh mông, phủ lên một không gian rộng rãi, hy vọng.
Viết như vậy hẳn tác giả phải có ẩn ý. Đặt trong bối cảnh bài thơ ra đời là những năm tháng kháng chiến khốc liệt, khi sự sống và cái chết mong manh như chiếc lá úa, khi những cuộc chia ly có thể là lần gặp gỡ cuối cùng giữa người đi và kẻ ở, phải chăng tác giả không chỉ đập tan khuôn mẫu nhận thức về mối giao cảm giữa thiên nhiên và con người, mà còn đang khích lệ tinh thần của những người sắp chia tay nhau hay sao ? Dẫu biết rằng sự chia ly có thể khiến những người sắp xa nhau cách đôi bờ sinh tử, nhưng đâu phải chỉ có như vậy ? Người đi ra tiền tuyến, chiến đấu vì quê hương đất nưới. Người ở lại làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Cả kẻ ở, người đi đều chiến đấu son sắt vì tình yêu quê hương đất nước, vì lý tưởng cao đẹp đã dẫn họ đến với nhau, và vì chính tình yêu của họ. Vậy thì sự chia ly đó chỉ diễn ra trong không gian địa lý thông thường, còn trong thế giới tâm thức, chẳng phải họ đang sát cánh chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp của cả hai hay sao ? Vậy nên, màu chia ly đó phải là màu đỏ, màu đỏ của những cánh hoa như những người làm chứng về sự thuỷ chung của các cặp đôi, màu đỏ của hy vọng, của lý tưởng sáng ngời, của những người đồng đội, đồng chí ngày đêm sát cánh cùng nhau chiến đấu với hy vọng mong manh và mãnh liệt rằng, khi chiến tranh kết thúc, chúng ta có thể trở về bên nhau và sống hạnh phúc dưới vòm trời hoà bình mà chính đôi tay mình đã tạo dựng.
Nếu chiến tranh là nguyên nhân khiến con người phải rời xa nhau, thì lý tưởng chính là sức mạnh tinh thần gắn kết linh hồn họ. Vậy nên, đoạn cuối khổ thơ, tác giả mới nghe được tiếng gió thì thào. Cái thì thào đó là ngọn lửa âm ỉ của tình yêu, của lí tưởng cao đẹp mà vĩ đại. Những người rời xa nhau, chỉ kịp trao những câu nói chân thành và sâu sắc nhất. Ngọn gió đã truyền lời họ đi khắp đất nước. Phải chăng đó không phải là cơn gió thông thường, mà là lời nhắn của Tổ Quốc gửi đi khắp thế gian ?
Tình yêu của con người luôn hoà quyện trong tình yêu với đất nước. Vậy nên, khi đất mẹ vẫy gọi, những người con máu đỏ da vàng lại lên đường, chiến đấu cho quê hương đất nước. Tình yêu của những người lính và của những cô gái hậu phương đã nhập vào làm một với tình yêu đất nước. Vậy nên, chiến đấu cho quê hương cũng chính là chiến đấu cho những người mà mình yêu thương và bảo vệ.
Câu thơ “Khi Tổ Quốc cần, họ biết sống xa nhau” chính là linh hồn của toàn bài. Trong câu thơ ấy chứa đựng tinh thần của cả dân tộc. Những đôi lứa sắp chia ly biết về hoàn cảnh của mình, của đất nước, vậy nên khi Tổ Quốc cần, họ sẵn sàng tạm rời xa nhau. Nếu thiếu đi chữ “ biết” ấy, câu thơ dẫn rơi vào hoàn cảnh áp đặt, bi kịch, tầm thường hoá lý tưởng. Chỉ với chữ “biết” ấy, tác giả đã cho chúng ta thấy tâm thế của những con người trong thời đại kháng chiến. Tình yêu của họ không phải là thứ tình yêu vị kỷ chỉ nghĩ cho riêng bản thân, mà đó là tình yêu của những con người xả thân vì đất nước. Khi Tổ Quốc cần, mọi khoảng cách địa lý, mọi giới hạn dần bị xoá nhoà. Họ không chỉ xa nhau, mà họ biết sống xa nhau, biết biến nỗi đau thành sức mạnh, biến đau thương thành hy vọng. Những con người ấy chiến đấu để tương lai của họ, hoặc của những thế hệ mai sau, trở thành những cuộc đời ‘như chưa hề có cuộc chia ly”. Chỉ một câu thơ, Nguyễn Mỹ đã khắc tạc trọn vẹn tâm thế sẵn sàng chiến đấu và lý tưởng cao đẹp của con người Việt Nam.

